Trang

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

TRƯNG NỮ VƯƠNG


 

TRƯNG NỮ VƯƠNG
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
*
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời
*
Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi.
Ngân Giang (1939)
oOo
Kính cảm tác: "TRƯNG NỮ VƯƠNG" - Nữ sĩ: Ngân Giang

CHÍ KHÍ NỮ VƯƠNG
Nữ Vương khởi nghĩa trừ quân phỉ *
Nợ nước thù nhà mộng chẳng vơi
Chí khí hiên ngang hòa biển cả
Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi
Hai Bà* vung kiếm gìn non nước
Giặc Hán tiêu đời bỏ mão đai
Giao Chỉ thỏa lòng xây đất nước
Cổ Loa đón tết nở hoa Mai
*
Quốc gia thế sự lòng trăn trở
Lảnh thổ quân thù mộng tái lai
Tướng sĩ trần gian còn bỡ ngỡ!
Linh hồn âm cảnh mãi bùi ngùi..
Quân thù ác độc luôn giầy xéo
Dã thú ngông cuồng vẫn nuốt nhai
Quyết chiến giữ nhà yêu tổ quốc
Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời
*
Hai Bà…để lại lừng trang sừ
Tô Định..tháo lui sợ bóng voi
Bắc thuộc tàn quân vừa tẩu tán
Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời
Đức Hạnh
* Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ (tương đương một phần Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay), mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt tại đây
***
Chào bạn, việc được thưởng thức và bình luận hai bài thơ viết về đề tài lịch sử hào hùng như thế này thực sự là một trải nghiệm văn chương đầy cảm xúc.
Dưới đây là lời bình thơ, chia sẻ những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp của nguyên tác "Trưng Nữ Vương" của nữ sĩ Ngân Giang và bài thơ cảm tác "Chí Khí Nữ Vương" của tác giả Đức Hạnh.
1. Nguyên tác "Trưng Nữ Vương" (Ngân Giang) – Bi kịch hào hùng của một bậc nữ nhi anh kiệt
Ngân Giang (1916 – 2002) vốn được mệnh danh là "Nữ hoàng thơ Đường luật" của thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Bài thơ Trưng Nữ Vương (viết năm 1939) chính là một trong những đỉnh cao nghệ thuật của bà, khắc họa chân dung Hai Bà Trưng không chỉ như những vị anh hùng dân tộc, mà còn như những người phụ nữ với chiều sâu tâm trạng đầy bi tráng.
Khổ 1: Khí phách hiên ngang trước vận nước
"Thù hận đôi lần chau khoé hạnh Một trời loáng thoáng bóng sao rơi Dồn sương vó ngựa xa non thẳm Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi..."
Ngay từ những câu mở đầu, Ngân Giang đã dùng bút pháp ước lệ trang trọng của thơ cổ để tạc nên bức tượng đài sống động. Đằng sau "khóe hạnh" (mắt đẹp của người phụ nữ) là cả một trời lửa hận ngút ngàn. Hình ảnh "vó ngựa dồn sương""chim Bằng gạt gió" thể hiện chí khí phi thường, đạp bằng mọi gian khổ để gánh vác giang sơn. Sự xuất hiện của đấng nữ nhi được đặt trong bối cảnh không gian vũ trụ rộng lớn ("bóng sao rơi", "non thẳm", "dặm khơi"), nâng tầm vóc cuộc khởi nghĩa lên tầm vĩ mô.
Khổ 2: Tâm sự trĩu nặng đằng sau ánh hào quang
"Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai... ...Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời"
Cái hay, cái nhân văn của Ngân Giang nằm ở chỗ bà nhìn thấy động lực khởi nghĩa của Trưng Trắc không phải là tham vọng quyền lực ("Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai"), mà là vì nghĩa lớn: đền nợ nước, trả thù nhà ("Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận"). Chi tiết "Cờ tang điểm tướng" và "Gót ngọc gieo thoa" là sự kết hợp tuyệt mỹ giữa tinh thần chiến đấu can trường và nét nữ tính thanh cao. Họ ra trận với chiếc khăn tang trên đầu, biến nỗi đau mất mát thành sức mạnh dời non lấp biển.
Khổ 3: Nỗi cô đơn tột cùng trên đỉnh vinh quang
"Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi."
Đây là hai câu thơ xuất thần và xúc động nhất bài. Sau chiến thắng, bước lên ngôi cao, người anh hùng ấy bỗng trở về nguyên vẹn là một người vợ goá phụ khóc chồng (Thi Sách). Chữ "Chàng ơi" vang lên giữa "điện ngọc" nguy nga nghe sao mà thắt lòng. Giữa đỉnh cao vinh quang, ngôi vị hoàng đế lại chính là chiếc bóng cô đơn, lạnh lẽo dưới ánh trăng tà. Bi kịch cá nhân hòa quyện vào hào quang lịch sử tạo nên một nốt trầm lay động tâm can.
2. Bài cảm tác "Chí Khí Nữ Vương" (Đức Hạnh) – Tiếng lòng ngưỡng vọng và tiếp nối hào khí
Nếu bài thơ của Ngân Giang thiên về khai thác nội tâm trĩu nặng và bi tráng, thì bài cảm tác của tác giả Đức Hạnh lại tập trung làm nổi bật chí khí ngút trời, tinh thần quyết chiến và niềm tự hào dân tộc.
Khổ 1 và 2: Ngợi ca tinh thần bất khuất
"Chí khí hiên ngang hòa biển cả Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi Hai Bà vung kiếm gìn non nước Giặc Hán tiêu đời bỏ mão đai"
Tác giả Đức Hạnh sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú với giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát. Những từ ngữ như "hiên ngang", "bất khuất", "vung kiếm" thể hiện một thái độ ca ngợi trực diện và đầy tự hào. Hình ảnh cái kết của quân thù ("tiêu đời bỏ mão đai") đối lập với cảnh thanh bình của bờ cõi ("Cổ Loa đón tết nở hoa Mai") đem đến một cảm giác thỏa lòng, tự tại cho người đọc.
Tác giả cũng rất nhạy bén khi nhìn nhận về sự tàn khốc của chiến tranh và bản chất nguy hiểm của kẻ thù phương Bắc thông qua khổ thơ thứ hai:
"Quốc gia thế sự lòng trăn trở Lãnh thổ quân thù mộng tái lai... Quyết chiến giữ nhà yêu tổ quốc Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời"
Lời thơ vừa là sự hoài niệm quá khứ, vừa mang tính cảnh báo thời cuộc: âm mưu của giặc phương Bắc là "mộng tái lai" (luôn muốn quay lại xâm lược), do đó tinh thần "quyết chiến giữ nhà" luôn là chân lý "thuận lòng trời" của người dân nước Việt.
Khổ cuối: Khúc khải hoàn ca rực rỡ
"Hai Bà…để lại lừng trang sử Tô Định..tháo lui sợ bóng voi Bắc thuộc tàn quân vừa tẩu tán Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời"
Khác với cái kết đầy cô đơn, lặng lẽ trong thơ Ngân Giang, tác giả Đức Hạnh lựa chọn khép lại bài thơ bằng một khúc khải hoàn ca. Hình ảnh Thái thú Tô Định hèn nhát "sợ bóng voi" tháo chạy nhục nhã được đặt cạnh vầng hào quang "rạng muôn đời" của Vương Nữ nước Nam. Đây là cái kết viên mãn, tôn vinh trọn vẹn chiến tích lịch sử của Hai Bà.
Lời kết
  • "Trưng Nữ Vương" của Ngân Giang là một tuyệt tác nghệ thuật đan xen giữa cái Hùng và cái Bi, tạc nên hình tượng một nữ vương vĩ đại nhưng cũng là một người phụ nữ với những góc khuất cô đơn, giàu lòng trắc ẩn.
  • "Chí Khí Nữ Vương" của Đức Hạnh là một bài cảm tác thành kính, tiếp nối dòng chảy yêu nước đó bằng một giọng thơ chính khí lẫm liệt, hào hùng, nhấn mạnh vào bài học lịch sử và lòng tự tôn dân tộc.
Hai bài thơ, hai góc nhìn và hai thời điểm sáng tác khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm chung duy nhất: Lòng biết ơn vô hạn và niềm tự hào sâu sắc trước những người anh hùng đã viết nên trang sử vàng đầu tiên cho nền độc lập dân tộc.
[Bình thơ và hình ảnh minh họa - Gemini]

DẠI KHÔN

 


DẠI KHÔN

Thế sự đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Nầy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Cái khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

Trần Tế Xương

 

Cẩn họa thơ: “Dại Khôn” - Trần Tế Xương

KHÔN DẠI

Ngu dại thói đời bảo chẳng khôn

Khôn mà như dại ấy là khôn

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn!

Đức Hạnh - 06072026

***

Chào bạn, bài thơ của Tú Xương vốn đã là một tuyệt tác mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc về lẽ "Dại – Khôn" ở đời. Việc họa lại bài thơ này vừa là một thử thách lớn về mặt niêm luật, vừa đòi hỏi một nhãn quan tâm thế vững vàng để không bị cái bóng lớn của tiền nhân che lấp.

Dưới đây là lời bình chuyên sâu về cặp thơ xướng họa đầy thú vị này:

1. Bài xướng: "DẠI KHÔN" – Trần Tế Xương

Thế sự đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Nầy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Cái khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

Tú Xương nhìn đời bằng đôi mắt của một nhà nho tài hoa nhưng bất đắc chí. Điểm đặc sắc nhất trong thi pháp của ông ở bài này là nghệ thuật lặp từ (điệp ngữ) liên tục hai chữ "dại" và "khôn" xuyên suốt 8 câu thơ, tạo nên một ma trận ngôn từ khiến người đọc quay cuồng trong cái vòng lẩn quẩn của nhân thế.

  • Nhãn quan hiện thực: Tú Xương vạch trần cái "khôn" thực dụng của xã hội đương thời. Kẻ khôn lanh trong các trò đỏ đen, luồn cúi thực chất chỉ là cái "khôn dại" (khôn lỏi, nhất thời nhưng hại thân). Ngược lại, người đắm mình vào văn chương chữ nghĩa, dù bị coi là "dại" vì nghèo khó, lại chính là cái "dại khôn" – cái dại bảo tồn được nhân cách và giá trị thiên lương.
  • Triết lý biện chứng: Ông khẳng định "Làm người có dại mới nên khôn". Khôn và dại không tách rời mà là hai mặt của một quá trình trải nghiệm. Giọng thơ có chút ngông nghênh, mỉa mai nhưng ẩn chứa nỗi chua chát của một bậc thức giả nhìn thấu sự điên đảo của cuộc đời.

2. Bài họa: "KHÔN DẠI" – Đức Hạnh

Ngu dại thói đời bảo chẳng khôn

Khôn mà như dại ấy là khôn

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn!

Bài họa của tác giả Đức Hạnh đã hoàn thành rất tốt kỹ thuật họa nguyên vận (giữ đúng các chữ vần khôn ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8) và tiếp nối được mạch tư duy điệp từ của nguyên tác. Tuy nhiên, nếu Tú Xương dùng "Dại Khôn" để trào phúng và phản kháng xã hội, thì Đức Hạnh lại chuyển hướng sang góc nhìn chiêm nghiệm, tu thân và xử thế.

Phân tích chuyển biến tư tưởng:

  • Cặp câu 3 - 4 (Thực):

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Biện pháp đối rất chỉnh: "Lớn khôn khiêm nhường" đối với "Khôn kín hiền hòa". Ở đây, tác giả chạm đến triết lý "Đại trí nhược ngu" (bậc đại trí trông như kẻ ngu đần) của Lão Trang. Cái khôn ở đây không còn là sự tranh chấp, hơn thua với đời mà là sự "khiêm nhường", "khôn kín", biết thu mình lại để giữ sự bình yên và hòa hợp.

  • Cặp câu 5 - 6 (Luận):

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Tác giả nhìn nhận "khôn" và "dại" như một quá trình tự rèn luyện (điều dưỡng, đề phòng). Đây là cái nhìn mang tính xây dựng, thiên về hướng giáo dục và tự tỉnh.

  • Cặp câu kết:

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn.

Hai câu kết hạ màn bằng một sự tự trào nhẹ nhàng. Người xưa hay người nay, sau khi mọi chuyện đã qua (việc xong rồi) mới giật mình nhìn lại và thấy mình vẫn còn những chỗ "dại". Cái kết này kéo triết lý từ trên cao xuống gần với trải nghiệm thực tế của mỗi cá nhân: Con người không ai hoàn hảo, kẻ tự đắc tưởng mình khôn suốt đời hóa ra lại là kẻ "dại hổng khôn". Chữ "hổng" mang chút phong vị dân dã Nam Bộ, làm giảm bớt tính nặng nề của triết lý, tạo một nụ cười mỉm nhẹ nhàng.

So sánh Đối thoại Không gian và Thời gian

Tiêu chí

Bài xướng (Trần Tế Xương)

Bài họa (Đức Hạnh)

Tâm thế

Nhìn ra xã hội (Khách quan, trào phúng, phản kháng).

Nhìn vào chính mình (Chủ quan, chiêm nghiệm, tu thân).

Tính chất "Khôn"

Cái khôn gắn liền với danh lợi, thời cuộc, văn chương.

Cái khôn gắn liền với đạo đức xử thế, khiêm tốn, hiền hòa.

Giọng điệu

Cay đắng, sắc sảo, có phần ngông nghênh.

Điềm đạm, trầm lắng, mang tính tự răn.

Kết luận:

Màn xướng họa này rất thú vị ở chỗ nó thể hiện hai thái độ sống ở hai thời đại khác nhau. Tú Xương sống trong thời kỳ giao thời hỗn độn nên cái nhìn về "Dại Khôn" đầy gai góc và góc cạnh. Đức Hạnh sống ở thời sau, mượn bộ khung của tiền nhân để đúc kết một triết lý sống an nhiên, tự tại và tỉnh thức hơn. Một bên là khúc ca phản kháng, một bên là bài học thu mình. Cả hai bổ khuyết cho nhau, tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn về hai chữ Dại - Khôn ở đời.- Gemini.