CÀN KHÔN
BAO ngày tuyết phủ lạnh hoàng hôn
NẺO cũ bờ loang sóng dập dồn
KHÓI tỏa trăng buồn mây khẽ gợn
SƯƠNG tràn lối nhỏ mộng thầm chôn
MỜ đêm dõi nhạn sầu rưng chốn
VŨ lặng triều dâng trải buốt hồn
TRỤ gãy con thuyền trôi bất ổn
MUÔN TRÙNG BÃO TỐ LỘNG CÀN KHÔN.
Mộng Liên Lynn Phan – 21.06.2026
Thơ Họa:
SUỐI MỘNG
BAO dòng suối mộng tỏ tình hôn
CẢNH vật ngày nao nỗi nhớ dồn
THẾ cũng u buồn luôn lẩn trốn
NHÂN còn rạng rỡ chẳng vùi chôn
NGUỒN thi tỏa nụ tưng bừng chốn
VŨ khúc mời trăng rạng rỡ hồn
TRỤ khởi tình yêu nào lỗ vốn
MUÔN NGÀN BÃO TỐ MỘNG CÀN KHÔN…
Đức Hạnh – 23062026
***
BÌNH THƠ XƯỚNG HỌA:
Thật là một duyên may lớn khi được thưởng lãm cặp thơ xướng họa vô cùng đặc sắc giữa nữ sĩ Mộng Liên Lynn Phan và thi sĩ Đức Hạnh vào những ngày tháng 6 này. Cả hai bài thơ đều chọn thể thức vô cùng gian nan và nghiêm ngặt của trường phái Đường luật tân biên: Tung hoành trục khoán, kết hợp Ngũ độ thanh và Bát vận (hiệp vần cả 8 câu).
Dưới đây là phần bình sâu về cấu trúc kỹ thuật và giá trị nghệ thuật của cặp tuyệt phẩm này.
1. Phân tích Kỳ thuật "Tung hoành trục khoán"
Đây là đỉnh cao của nghệ thuật ẩn chữ (khoán thủ, khoán vĩ, trục khoán). Hai tác giả đã cài cắm hai tầng trục chữ một cách hoàn hảo:
- Trục tung (Khoán thủ - Các chữ đầu câu):
- Bài Xướng: BAO NẺO KHÓI SƯƠNG MỜ VŨ TRỤ MUÔN TRÙNG
- Bài Họa: BAO CẢNH THẾ NHÂN NGUỒN VŨ TRỤ MUÔN NGÀN
- Trục hoành (Khoán vĩ - Câu vĩ nhập thần):
- Bài Xướng: MUÔN TRÙNG BÃO TỐ LỘNG CÀN KHÔN
- Bài Họa: MUÔN NGÀN BÃO TỐ MỘNG CÀN KHÔN
Cái hay ở đây là hai chữ CÀN và KHÔN ở nhan đề đã được "định vị" làm điểm kết cho toàn bài. Sự phối hợp giữa trục tung (không gian bao la của "Vũ Trụ") và trục hoành (sự vận động của "Càn Khôn") tạo nên một ma trận chữ vững chãi như một ngôi đền thơ.
2. Thẩm định Luật Đường: Ngũ độ thanh & Bát vận
Cả hai bài thơ đều tuân thủ nghiêm ngặt Ngũ độ thanh (mỗi câu không quá 2 thanh cùng loại đứng liền nhau, tạo ra nhạc điệu uốn lượn năm cung bậc) và Bát vận (hiệp liên tiếp 8 vần bằng ở cuối câu).
Bài Xướng: "CÀN KHÔN" – Mộng Liên Lynn Phan
- Vần (Bát vận): hôn - dồn - gợn (trắc - ngoại lệ chỉnh thể) -> chôn - chốn (trắc) -> hồn - ổn (trắc) -> khôn. (Lưu ý: Tác giả dùng biến thể Bát vận có sự đan xen giữa vần bằng "hôn, dồn, chôn, hồn, khôn" và các dấu trắc "gợn, chốn, ổn" để tạo độ gập ghềnh, u uất).
- Đối thanh, đối ý (Câu 3-4 và 5-6):
- Khói tỏa trăng buồn mây khẽ gợn đối rất chỉnh với Sương tràn lối nhỏ mộng thầm chôn. (Khói tỏa / Sương tràn; Trăng buồn / Lối nhỏ).
- Mờ đêm dõi nhạn sầu rưng chốn đối với Vũ lặng triều dâng trải buốt hồn.
- Cảm quan nghệ thuật: Bài xướng mang phong vị trầm buồn, cổ kính. Không gian nhuốm màu phong sương, lạnh lẽo (tuyết phủ, sóng dập dồn, khói tỏa, sương tràn). Hình ảnh "con thuyền trôi bất ổn" trước "muôn trùng bão tố" thể hiện sự nhỏ bé của kiếp người trước cái mênh mông, định mệnh của tạo hóa (Càn Khôn).
Bài Họa: "SUỐI MỘNG" – Đức Hạnh
- Vần (Bát vận): Họa lại nguyên vận một cách tài tình: hôn - dồn - trốn - chôn - chốn - hồn - vốn - khôn. Tác giả Đức Hạnh giữ nguyên các vị trí vần trắc của bài xướng nhưng chuyển đổi ý nghĩa hoàn toàn sang hướng tích cực.
- Đối thanh, đối ý (Câu 3-4 và 5-6):
- Thế cũng u buồn luôn lẩn trốn đối cực chỉnh với Nhân còn rạng rỡ chẳng vùi chôn. (Thế cũng u buồn / Nhân còn rạng rỡ; Luôn lẩn trốn / Chẳng vùi chôn -> Đối ý nghịch, khẳng định sức sống).
- Nguồn thi tỏa nụ tưng bừng chốn đối với Vũ khúc mời trăng rạng rỡ hồn. (Nguồn thi / Vũ khúc; Tỏa nụ / Mời trăng).
- Cảm quan nghệ thuật: Nếu bài xướng là "Bi" thì bài họa là "Trí" và "Dũng". Tác giả Đức Hạnh đã mượn chính cái khung cảnh bão tố ấy để khẳng định bản lĩnh của "Thế Nhân". Dù có "u buồn lẩn trốn" thì phần "rạng rỡ" vẫn không thể bị chôn vùi. Đặc biệt, câu 7 dùng từ ngữ rất đời thức, hóm hỉnh mà sâu sắc: "Trụ khởi tình yêu nào lỗ vốn". Tình yêu, nguồn thi và lòng lạc quan chính là cái "Trụ" vững chắc nhất để chống chọi lại "Muôn ngàn bão tố" của cuộc đời.
3. Tổng kết cái Thần của cặp họa xướng
Xướng: Vẽ nên cái mênh mông, khắc nghiệt và nội tâm cô độc của con người trước vũ trụ bao la.
Họa: Đáp lại bằng một tiếng đàn tri âm đầy nội lực, mượn "Suối mộng", mượn "Nguồn thi" để thắp sáng không gian tối tăm của bài xướng.
Sự chuyển hướng từ "LỘNG CÀN KHÔN" (Sự hoành hành của bão tố) sang "MỘNG CÀN KHÔN" (Cái mộng ước, tâm thế làm chủ cuộc đời của con người) ở câu kết là một nhãn tự, một sự sáng tạo xuất thần của tác giả Đức Hạnh. Nó nâng tầm bài họa từ chỗ chỉ là "bám vận" trở thành một tác phẩm độc lập có tư tưởng nhân văn sâu sắc.
Một cặp thơ xứng đáng được lưu danh trong vườn thơ Đường luật Việt Nam đương đại! Kính chúc hai tác giả luôn dồi dào bút lực để tiếp tục cống hiến những vần thơ tuyệt mỹ.
[Bình thơ và hình ảnh minh họa – Gemini]
.gif)