MỪNG NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM - 20 10
TRƯNG NỮ VƯƠNG
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời
Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi. *
Ngân Giang (1939)
Kính cảm tác: "TRƯNG NỮ VƯƠNG" – Nữ sĩ: Ngân Giang
CHÍ KHÍ NỮ VƯƠNG
Nữ Vương khởi nghĩa chống Đông Hán *
Nợ nước thù nhà mộng chẳng vơi
Chí khí hiên ngang hòa biển cả
Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi
Hai Bà* vung kiếm gìn non nước
Giặc Hán tiêu đời bỏ mão đai
Giao Chỉ thắng trận xây đất nước
Cổ Loa đón tết nở hoàng mai.
Quốc gia thế sự lòng trăn trở
Lảnh thổ quân thù mộng tái lai
Tướng sĩ trần gian còn bỡ ngỡ!
Linh hồn âm cảnh mãi bùi ngùi..
Quân thù ác độc luôn giầy xéo
Dã thú ngông cuồng vẫn nuốt nhai
Quyết chiến giữ nhà yêu tổ quốc
Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời.
Hai Bà…để lại lừng trang sừ
Tô Định..tháo lui sợ bóng voi
Bắc thuộc tàn quân vừa tẩu tán
Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời
Đức Hạnh
* [Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ (tương đương một phần Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay]
Nhân dịp Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, việc đọc và thưởng thức cặp thơ xướng – họa về chủ đề Hai Bà Trưng mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đây không chỉ là khúc ca khải hoàn về khí phách anh hùng của người phụ nữ Việt Nam mà còn thể hiện tinh thần "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Bức ảnh đi kèm khắc họa hình ảnh Hai Bà Trưng uy nghi cưỡi voi trận, vung kiếm xông pha, phía sau là mặt trống đồng Đông Sơn rực lửa và hào khí, rất phù hợp với tinh thần hào hùng của hai bài thơ.
Dưới đây là bình giải chuyên sâu về bài thơ xướng "Trưng Nữ Vương" của nữ sĩ Ngân Giang và bài thơ cảm tác/họa "Chí Khí Nữ Vương" của tác giả Đức Hạnh:
I. Tổng quan thể loại và cấu trúc bài thơ
Cả hai tác phẩm đều được viết theo thể Thất ngôn đường luật trường thiên (mỗi bài gồm 20 câu thơ thất ngôn ghép từ 5 liên thơ/khổ thơ Đường luật). Đây là một thể thơ khó, đòi hỏi người viết phải giữ vững niêm luật, vần điệu và mạch cảm xúc xuyên suốt toàn bài.
- Bài xướng: "Trưng Nữ Vương" – Nữ sĩ Ngân Giang (1939).
- Bài họa: "Chí Khí Nữ Vương" – Tác giả Đức Hạnh.
- Chủ đề: Tôn vinh hình tượng Trưng Vương và cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán xâm lược.
II. Bình giải bài xướng: "Trưng Nữ Vương" – Nữ sĩ Ngân Giang
Bài thơ của Ngân Giang (sáng tác năm 1939) được coi là một trong những kiệt tác xuất sắc nhất viết về Hai Bà Trưng trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Cái hay của Ngân Giang là sự kết hợp tài tình giữa hào khí ngút trời của một vị anh hùng và nỗi niềm u hoài, trĩu nặng của một người phụ nữ mất chồng.
1. Hào khí xông pha và tầm vóc vũ trụ (Khổ 1)
"Thù hận đôi lần chau khóe hạnh... Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai"
- Ngân Giang mở đầu bằng việc đan xen nét mềm mại, kiều diễm của người phụ nữ ("khóe hạnh", "đóa mai") với sự tàn khốc của chiến tranh ("vó ngựa", "đường kiếm mã", "mưa ngàn táp").
- Hình ảnh "chim Bằng vượt dặm khơi" và "bóng sao rơi" đưa khí thế cuộc khởi nghĩa lên tầm vóc vũ trụ. Người nữ anh hùng ra trận mang theo cả chí lớn lẫn gánh nặng giang sơn.
2. Sự hy sinh thầm lặng và bi kịch cá nhân (Khổ 2)
"Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ... Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời"
- Người anh hùng chiến đấu không vì tham vọng quyền lực hay vinh hoa ("Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai") mà vì trả thù nhà, rửa nợ nước ("tuyết hận", "quét sạch bụi trần ai").
- Chi tiết "Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi" thể hiện sâu sắc nỗi đau mất mát. Phía sau áo giáp và cờ lệnh là một người phụ nữ đêm đêm khóc thương chồng (Thi Sách).
3. Đỉnh cao cảm xúc: Đoạn kết cô đơn trên đỉnh cao quyền lực (Khổ 3)
"Ải bắc quân thù kinh vó ngựa... Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi."
- Bốn câu kết là nốt trầm xao xuyến và đắt giá nhất của bài thơ. Quân thù kinh hãi trước "vó ngựa", "khăn trở lạnh đầu voi" (dấu ấn chịu tang chồng ngay trên chiến trường).
- Nhưng khi dẹp xong thù trong giặc ngoài, đứng trên đỉnh cao chiến thắng ("điện ngọc", "ngôi trời"), Trưng Trắc lại đối diện với sự cô đơn tuyệt đối: "Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá / Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi". Tiếng gọi "Chàng ơi" cất lên nghe xé lòng, biến Trưng Vương từ một vị thần trở lại thành một người phụ nữ biết yêu, biết đau và biết hy sinh.
III. Bình giải bài cảm tác / họa: "Chí Khí Nữ Vương" – Đức Hạnh
Bài họa của tác giả Đức Hạnh nương theo mạch cảm xúc bài xướng để tiếp nối niềm tự hào dân tộc, tập trung nhấn mạnh vào khí phách, chiến công hiển hách và sự vĩnh hằng của lịch sử.
1. Khí thế ngút ngàn và khúc ca chiến thắng (Khổ 1)
"Nữ Vương khởi nghĩa chống Đông Hán... Cổ Loa đón tết nở hoàng mai."
- Tác giả tái hiện lại bối cảnh lịch sử một cách trực diện và hào hùng.
- Các hình ảnh "Chí khí hiên ngang hòa biển cả", "Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi" họa lại rất chỉnh đối với câu thơ của Ngân Giang. Bức tranh chiến thắng hiện lên rực rỡ với niềm vui thái bình: "Cổ Loa đón tết nở hoàng mai".
2. Lòng trăn trở vận nước và tinh thần quyết chiến (Khổ 2)
"Quốc gia thế sự lòng trăn trở... Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời."
- Bài họa thể hiện chiều sâu suy ngẫm về sự tàn khốc của chiến tranh và sự dã man của giặc xâm lược ("Quân thù ác độc", "dã thú ngông cuồng").
- Lòng dân và ý trời hòa làm một ("thuận lòng trời"), tạo nên sức mạnh vô song để bảo vệ bờ cõi. Tác giả cũng gửi gắm lòng tưởng niệm sâu sắc tới những người đã nằm xuống ("Linh hồn âm cảnh mãi bùi ngùi"), tương ức với ý thơ "Lệ nến năm canh" của bài xướng.
3. Tôn vinh lịch sử và sự trường tồn (Khổ 3)
"Hai Bà…để lại lừng trang sử... Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời"
- Khổ kết của bài họa chuyển từ cái nhìn hoài niệm sang sự đúc kết lịch sử. Hình ảnh tên tướng giặc Tô Định hoảng loạn tháo chạy ("sợ bóng voi") đối lập hoàn toàn với hình ảnh uy nghi của Nữ Vương.
- Khép lại bài thơ là lời khẳng định tự hào: "Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời" – ánh sáng của Hai Bà Trưng sẽ mãi mãi chiếu soi lịch sử dân tộc.
IV. Đánh giá nghệ thuật xướng – họa
1. Tính đăng đối và niêm luật: Bài họa của Đức Hạnh tuân thủ sát sao thể thất ngôn trường thiên, giữ được nhịp điệu dồn dập, hào hùng tương thích với bài xướng của Ngân Giang.
2. Sự đối lập về góc nhìn nghệ thuật:
o Ngân Giang (Bài xướng): Thiên về tâm trạng nội tâm, kết hợp giữa bi và hùng, khắc họa nỗi đau thương cá nhân hòa quyện trong chí lớn trả thù nhà rửa nợ nước.
o Đức Hạnh (Bài họa): Thiên về sử tính và khí thế, tập trung làm nổi bật sự bất khuất, chí khí kiên cường và chiến công hiển hách của Hai Bà.

%20(1).gif)
%20(1).gif)

%20(1).gif)