BỒNG BỀNH MỘNG
Lắng nghe chiều xuống trải sương mờ
Từng cánh thu vàng nhả sợi tơ
Lúc hứng mở trang trêu chú Cuội
Khi buồn thả mộng ghẹo nàng Thơ
Trăng lên thỏ thẻ câu hò hẹn
Hoa nở nồng nàn khúc mộng mơ
Cánh nhạn đã sàng qua bốn cõi
Đèn khuya lẻ bóng có ai chờ !?
Đức Hạnh - 30 07 2018
Bài Họa:
NÀNG THU TỎ...
NÀNG Nguyệt yêu đời bóng chẳng mờ
THU còn trải lá dệt ngàn tơ
MỘNG gia chính nghĩa ngời công lý
ƯỚC cảnh công bình đẹp ý thơ
TÌNH cảm nồng nàn hoa mãi nở
TRĂNG sao rạng rỡ nước hoài mơ
TỎ bày thiện mỹ lời chân chính…
ĐẤT MẸ NON SÔNG QUÝ BẠN CHỜ !
Hồng Xuyến – 30.07.2018
CHỜ THU
Nếu biết Thu Vàng chậm nhạt mờ
Ta chờ nhặt lá để xe tơ
Say tình xướng họa bên thi hữu
Dệt nghĩa hàn huyên với bạn Thơ
Nỗi nhớ canh thâu luôn tưởng ước
Lời thương khát vọng cứ trông mơ
Bao mùa bóng xế mây chiều trải
Chẳng rõ trăng kia có đợi chờ !?
JB. Nguyễn Hùng - 30 07 2018
LẠNH CÕI CHỜ
Đã mấy năm rồi mộng ngõ tơ
Đêm nghiêng gối chiếc bóng trăng mờ
Mưa chiều trăn trở đường mây nhớ
Nắng sớm bâng khuâng lối gió mơ
Lặng lẽ cùng thu gieo ý ngọc
Im lìm với nguyệt thả tình thơ
Mơ màng bến cũ niềm tâm sự
Tóc điểm sương chiều lạnh cõi chờ!!!
GM.Nguyễn Đình Diệm 30.7.2018
SAY TRĂNG
Tóc liễu mềm nhung xõa nguyệt mờ
Gương hồ tịnh thủy óng màu tơ
Vòm mây lãng đãng ru ngàn gió
Đỉnh núi bồng bềnh mắc võng thơ
Điệu vũ nghê thường lay phiến mộng
Cung đàn ngọc nữ chuốc hồn mơ
Men yêu túy lúy mình ta cạn
Khép cửa mê cung, mãi đợi chờ…
Lý Đức Quỳnh - 31 07 2018
Đáp Họa:
THI HỮU TRI ÂM
THI tỏ vườn yêu mộng hết mờ
ĐÀN khơi suối nhạc trải đường tơ
XƯỚNG vui quý hữu hòa trăng nước
HỌA thích sơn hà trổ cánh thơ
TÌNH nghĩa chân thành ngời biển mộng
NHÂN duyên thắm thiết đẹp trời mơ
NỞ hoa thiện cảm…vườn tri kỷ
TỨ HẢI GIAO LƯU NGUYỆT LÃO CHỜ !
Đức Hạnh – 01082018
Đây là một chùm thơ xướng họa Thất ngôn bát cú Đường luật tinh tế, thể hiện rõ nét văn hóa tao nhã, tình thi hữu bền chặt và sự điêu luyện trong niêm luật của các tác giả.
Dưới đây là bình giải chi tiết về tính nghệ thuật, tư tưởng và sự liên kết giữa bài xướng, các bài họa cùng bài đáp họa.
1. Bài Xướng: BỒNG BỀNH MỘNG (Đức Hạnh)
- Khởi đầu tâm trạng: Bài xướng mở ra với không gian thu lãng đãng, vừa mang nét thơ mộng vừa man mát nỗi niềm cô đơn. Cảnh thu "trải sương mờ", "nhả sợi tơ" tạo nên bức tranh thiên nhiên thanh tao, làm nền cho tâm sự trữ tình.
- Tâm hồn thi sĩ: Hai câu thực và luận thể hiện sự tự do, ngẫu hứng của tác giả ("trêu chú Cuội", "ghẹo nàng Thơ", "thỏ thẻ", "nồng nàn"). Tác giả sống hết mình với cảm xúc, đem lòng mình hòa cùng thiên nhiên và trăng sao.
- Khép lại bằng câu hỏi tu từ: “Đèn khuya lẻ bóng có ai chờ !?” vừa là một sự trăn trở cá nhân, vừa là lời "mở lối" gọi đáp chân thành để thi bằng hữu tìm đến sẻ chia.
2. Điểm đặc sắc của các Bài Họa
Mỗi thi hữu khi đáp lời bài xướng đã mang đến một màu sắc, tư tưởng và kỹ thuật gieo từ độc đáo:
NÀNG THU TỎ... (Hồng Xuyến)
- Kỹ thuật "Tung hoành trục khoán": Tác giả sử dụng thủ pháp ghép chữ đầu dòng để tạo thành hai câu thơ độc lập (NÀNG THU MỘNG ƯỚC TÌNH TRĂNG TỎ / ĐẤT MẸ NON SÔNG QUÝ BẠN CHỜ !). Đây là sự phối hợp kỹ thuật cực kỳ công phu và giàu trí tuệ.
- Tư tưởng: Khác với cái cô đơn, ảo mộng của bài xướng, tác giả Hồng Xuyến hướng cảm xúc ra tầm vóc lớn lao hơn—tình yêu đất nước, lòng chính nghĩa và sự công bình. Câu hỏi lẻ bóng ban đầu được trả lời bằng sự bao la của tình bạn, tình quê hương.
CHỜ THU (JB. Nguyễn Hùng)
- Cảm xúc đồng điệu: Bài họa giữ nguyên vẻ êm đềm, hoài niệm của mùa thu. Tác giả khẳng định giá trị của việc "xướng họa", "dệt nghĩa hàn huyên" cùng tri kỷ.
- Sự mong mỏi: Khép lại bằng cái nhìn hoài niệm về thời gian ("bóng xế mây chiều"), gửi lại câu hỏi lơ lửng cho thiên nhiên và cuộc đời, duy trì nét trầm tư của bài xướng.
LẠNH CÕI CHỜ (GM. Nguyễn Đình Diệm)
- Góc nhìn trầm lắng, khắc khoải: Đây là bài họa có gam màu sâu nhất. Cảnh vật và lòng người hòa vào nhau qua các cặp từ đối tinh tế ("đêm nghiêng gối chiếc", "mưa chiều trăn trở", "nắng sớm bâng khuâng").
- Sự hoài niệm: Hình ảnh "tóc điểm sương chiều" đọng lại cảm giác bâng khuâng, hoài niệm về những điều đã qua, làm nổi bật cái "lạnh" của sự chờ đợi nhưng vẫn đong đầy tình cảm.
SAY TRĂNG (Lý Đức Quỳnh)
- Bức tranh lãng mạn, bay bổng: Tác giả nâng tầm không gian thành một chốn "mê cung", một đêm "vũ nghê thường" lộng lẫy và đắm say. Ngôn từ giàu hình ảnh ("tóc liễu", "gương hồ tịnh thủy", "mắc võng thơ") gợi không khí huyền ảo, mộng mơ.
- Cái "say" tao nhã: Cái say ở đây không chỉ là say men rượu mà là say thơ, say trăng, say cái đẹp của đất trời và lòng người.
3. Bài Đáp Họa: THI HỮU TRI ÂM (Đức Hạnh)
- Sự khép lại trọn vẹn: Sau khi nhận được sự đồng điệu từ các bạn thơ, tác giả bài xướng đáp lại bằng một bài họa đặc sắc không kém, cũng ứng dụng kỹ thuật Tung hoành trục khoán (THI ĐÀN XƯỚNG HỌA TÌNH NHÂN NỞ / TỨ HẢI GIAO LƯU NGUYỆT LÃO CHỜ !).
- Lời cảm ơn tri âm: Mọi sự trăn trở, lẻ bóng ở bài xướng ban đầu đã hoàn toàn tan biến. Thay vào đó là niềm vui vỡ òa của sự giao lưu, kết nối bạn bè khắp bốn phương ("tứ hải giao lưu"). Sự cô đơn ban đầu đã biến thành "vườn tri kỷ" ngát hương.
Chùm thơ xướng họa này là một minh chứng đẹp cho nét sinh hoạt văn hóa tao nhã. Nhóm thi hữu không chỉ tuân thủ chặt chẽ quy tắc Đường luật về niêm, luật, đối, vần mà còn thể hiện được sự ứng biến tài hoa, biến những trăn trở riêng tư thành niềm vui chung của tình bạn thơ ca. -
GEMINI
BÀI BÌNH GEMINI NANO:::
Đây là một chùm thơ xướng họa Đường luật (Thất ngôn bát cú) rất đặc sắc, quy tụ 5 tác giả với 6 bài thơ. Sự tương tác qua lại giữa bài Xướng (Đức Hạnh) -> các bài Họa (Hồng Xuyến, Nguyễn Hùng, Nguyễn Đình Diệm, Lý Đức Quỳnh) -> bài Đáp họa (Đức Hạnh) đã tạo nên một bức tranh tâm cảnh đa sắc, vừa đậm đà thi vị cổ điển, vừa tràn đầy nghĩa tình tri kỷ.
Dưới đây là bình giải chuyên sâu về nghệ thuật, niêm luật và tư tưởng của chùm thơ này.
1. Tổng quan về Luật Đường & Quy cách Xướng Họa
- Bộ vần chuẩn (Vần Yêu/Tơ): Các bài thơ chọn bộ vần khó, giàu tính gợi cảm và lãng mạn: Mờ - Tơ - Thơ - Mơ - Chờ.
- Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật, tuân thủ chặt chẽ niêm, luật, đối, và vần.
- Điểm độc đáo: Có sự xuất hiện của thủ pháp Tung hoành trục khoán (đọc xuôi câu đầu thành câu khoán cốt, hoặc khoán thủ/khoán vĩ kết hợp) ở hai bài thơ của Hồng Xuyến và Đức Hạnh.
2. Bình giải chi tiết từng bài thơ
Bài Xướng: BỒNG BỀNH MỘNG (Đức Hạnh)
Lắng nghe chiều xuống trải sương mờ...
- Ý xướng & Cảm xúc: Bài xướng mở đầu bằng một không gian thu dịu nhẹ (sương mờ, thu vàng nhả sợi tơ). Tâm trạng tác giả đi từ nét nghịch ngợm, tự do (trêu chú Cuội, ghẹo nàng Thơ) sang sự ngọt ngào của tình yêu thiên nhiên/thi ca (câu hò hẹn, khúc mộng mơ).
- Câu kết đắt giá: Cánh nhạn đã sàng qua bốn cõi / Đèn khuya lẻ bóng có ai chờ !? — Sau những bồng bềnh mộng tưởng, tác giả trở về với thực tại cô đơn. Mối nghi vấn "có ai chờ !?" chính là "nghi vấn ngỏ", mở đường cho các thi hữu khắp nơi nhảy vào họa lại, chia sẻ và cất lời đáp.
Bài Họa 1: NÀNG THU TỎ... (Hồng Xuyến)
NÀNG Nguyệt yêu đời bóng chẳng mờ...
- Kỹ thuật Tung Hoành Trục Khoán:
- Khoán thủ (Đầu dòng): NÀNG - THU - MỘNG - ƯỚC - TÌNH - TRĂNG - TỎ - ĐẤT.
- Khoán hàng ngang (Đáy): ĐẤT MẸ NON SÔNG QUÝ BẠN CHỜ !
- Cảm xúc & Tông giọng: Khác với nét suy tư trầm lắng của bài xướng, Hồng Xuyến họa lại bằng một giọng thơ khí phách, rộng mở. Tác giả nâng tầm câu chuyện từ tình cảm cá nhân lên chí hướng công lý, lòng yêu nước (Mộng gia chính nghĩa ngời công lý / Ước cảnh công bình đẹp ý thơ). Sự cô đơn của bài xướng được xua tan bằng tình yêu đất nước và tình bạn bao la.
Bài Họa 2: CHỜ THU (JB. Nguyễn Hùng)
Nếu biết Thu Vàng chậm nhạt mờ...
- Ý họa: Nguyễn Hùng bám rất sát cái "hồn" của bài xướng, tập trung vào chữ "Chờ" và tình thi hữu.
- Điểm sáng: Bức tranh xướng họa bên thi hữu, dệt nghĩa hàn huyên thể hiện tinh thần tao nhã của bậc văn nhân. Câu kết trả lời trực tiếp câu hỏi của bài xướng bằng một nỗi niềm băn khoăn tương đồng: Bao mùa bóng xế mây chiều trải / Chẳng rõ trăng kia có đợi chờ !? — Tạo nên một tiếng vang đồng điệu.
Bài Họa 3: LẠNH CÕI CHỜ (GM. Nguyễn Đình Diệm)
Đã mấy năm rồi mộng ngõ tơ...
- Ý họa: Nguyễn Đình Diệm kéo không gian bồng bềnh mộng tưởng về một cõi riêng sâu lắng, đầy hoài niệm và trầm mặc.
- Nghệ thuật đối & từ ngữ: Các cặp từ Mưa chiều trăn trở / Nắng sớm bâng khuâng, Lặng lẽ cùng thu / Im lìm với nguyệt tạo nên nhịp điệu khắc khoải. Hình ảnh Tóc điểm sương chiều lạnh cõi chờ vừa tả thực thời gian trôi, vừa kết tinh cái "lạnh" của sự cô đơn, làm cho ý thơ sâu sắc và xúc động.
Bài Họa 4: SAY TRĂNG (Lý Đức Quỳnh)
Tóc liễu mềm nhung xõa nguyệt mờ...
- Ý họa: Bài họa của Lý Đức Quỳnh là một sự bùng nổ về mặt hình ảnh và nhạc điệu, mang đậm màu sắc thi đán thần tiên.
- Bức tranh sơn thủy hữu tình: Ngôn từ rất đắt: Tóc liễu mềm nhung, Gương hồ tịnh thủy, Điệu vũ nghê thường, Cung đàn ngọc nữ. Tác giả nâng cái "Bồng bềnh mộng" của bài xướng lên thành cơn "Tuyệt túy" (say đắm) đến mức Khép cửa mê cung, mãi đợi chờ…. Đây là bài họa giàu tính nghệ thuật và bay bổng nhất trong chùm thơ.
Bài Đáp Họa: THI HỮU TRI ÂM (Đức Hạnh)
THI tỏ vườn yêu mộng hết mờ...
- Kỹ thuật Tung Hoành Trục Khoán:
- Khoán thủ: THI - ĐÀN - XƯỚNG - HỌA - TÌNH - NHÂN - NỞ - TỨ.
- Khoán hàng ngang (Đáy): TỨ HẢI GIAO LƯU NGUYỆT LÃO CHỜ !
- Tổng kết cái Tình: Bài đáp họa của Đức Hạnh khép lại vòng thơ xướng họa một cách viên mãn. Từ tâm trạng "lẻ bóng" ở bài xướng ban đầu, nhờ có sự họa đáp của các thi hữu mà mộng hết mờ, ngời biển mộng, đẹp trời mơ. Câu kết TỨ HẢI GIAO LƯU NGUYỆT LÃO CHỜ ! như một lời khẳng định: tình tri âm trong thi ca vượt qua mọi khoảng cách địa lý, kết duyên lành cho những tâm hồn đồng điệu.
3. Tổng kết cái Hay của Chùm Thơ
1. Về Nghệ thuật Xướng Họa: Cả 5 thi sĩ đều giữ đúng vần (Mờ - Tơ - Thơ - Mơ - Chờ), niêm luật chỉnh chu, đối cú chuẩn mực. Mỗi người một vẻ: Hồng Xuyến hào hùng; Nguyễn Hùng chân thành; Nguyễn Đình Diệm trầm tư; Lý Đức Quỳnh lãng mạn; Đức Hạnh khéo léo và trọn vẹn.
2. Về Giá trị Ý niệm: Chùm thơ là minh chứng cho nét đẹp văn hóa "Dùng thơ tìm bạn, lấy họa trải lòng". Từ sự cô đơn của một cá thể (Đèn khuya lẻ bóng), qua dòng chảy xướng họa đã biến thành sự ấm áp của tập thể (Tứ hải giao lưu).
.gif)
.gif)
