Trang

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

NGHĨA KHÍ ANH HÙNG

 


NGHĨA KHÍ ANH HÙNG
Oai hùng nghĩa khí bậc cần vương
Thế trận bè Nguyên đã tỏ tường
Đánh diệt phường Mông * gìn lãnh thổ
Khai nguồn nước Việt giữ ngàn phương
Quân thù kính phục lời danh Tướng
Bọn Phỉ nhìn kinh bãi chiến trường
Dẫu tử không làm vua giặc bắc **
Muôn thời tướng Trọng mãi lừng hương...
Đức Hạnh
* "Kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất là cách người Việt Nam gọi cuộc chiến đấu của quân dân"
** Trần Bình Trọng để lại tấm gương sáng mãi muôn đời
với câu nói đi vào sử sách, thi ca: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”
Những Bài Họa:
CHỈ MỘT LỜI THÔI !
Một lời chính khí khiến thành Vương
Miệng thốt lên câu đã rõ tường
“Ta chẳng làm vua nơi Bắc xứ
Thà làm ma quỉ ở Nam phương”
Kẻ thù khiếp dạ run tay kiếm
Giặc Hán kinh tâm động pháp trường
Bình Trọng làm nên trang sử Việt
Vang lừng muôn thuở mãi lưu hương
songquang
TRẦN BÌNH TRỌNG
Vọng tộc anh hùng*đấng nghĩa vương**
Nghìn thu sách lược rạng Thiên Trường
Cầm chân Mông Cổ xa Đà mạc
Hộ giá Vua Trần giữ Cố hương
Khí phách Trời Nam còn giục giã
Thần hồn Đất Bắc hết khoa trương
Tuổi đời hai sáu ngân cao giọng ***
Dũng kiệt muôn đời rọi bốn phương !
Như Thị
• Ghi chú:
*Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Đại Hành Hoàng Đế Lê Hoàn sinh ở xã Bảo Thái, nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Vợ Trần Bình Trọng là công chúa Thụy Bảo (Thụy Bảo đã có một đời chồng trước là Uy Văn Vương Toại). Sau này, con gái của Trần Bình Trọng, Chiêu Hiến Hoàng thái hậu, là mẹ của Trần Minh Tông, vua thứ năm triều Trần. Sử sách không ghi chép cha mẹ ông là ai. Tuy nhiên, có tài liệu nói phụ thân ông là danh tướng thời Trần Thái Tông là Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nên được vua gả công chúa Chiêu Thánh cho. Trần Bình Trọng có thể là con của Lê Phụ Trần với Lý Chiêu Hoàng
**Ông hy sinh khi chặn quân Nguyên ở bãi Thiên Mạc,Đà Mạc được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương
*** Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.
Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Không thể khuất phục được Trần Bình Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông vào ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (26-2-1285)
 
NGHĨA KHÍ TRẦN BÌNH TRỌNG
Giặc dụ Trần bình Trọng chức vương
Lời ông dõng dạt rõ am tường
Thề là quỷ dữ trời Nam bộ
Quyết chẳng vua tồi đất Bắc phương
Tướng sĩ tìm binh đầy dũng cảm
Quân dân chọn mã ắp can trường
Xua Tàu đuổi Hán dành bờ cõi
Lịch sử ngàn đời “ hữu xạ hương “
Minh Thuý
 
HÀO KHÍ VIỆT NAM
(mạ đề)
Nghĩa cử muôn dòng đượm sắc hương
Dìm thây lũ giặc xuống Giang trường
Tầm vông chẳng mạnh đâm ngàn tướng
Gậy gỗ đâu hùng oánh tỷ phương
"Quỷ đất Nam" này tâm mãi vượng
Kìa dân nước Việt ngữ luôn tường
Bao đời kế tục khơi nguồn dưỡng
Trảm lũ gian tà mộng bá vương.
Trần Hằng Nga
 
Đáp Họa: “Hào Khí Việt Nam”
DŨNG KHÍ TRẦN BÌNH TRỌNG
Anh hùng dũng khí tỏa ngào hương
Tổng Trọng cầm quân vững chiến trường
Diệt phỉ rừng chông gài những hướng
Tiêu Tàu kiếm thuật trải ngàn phương
Làm ma cõi Việt hồn không vướng
Đặng nghĩa trời Nam cảnh mới tường
Một chữ khai nguồn ngời lý tưởng
Muôn đời mãi nhớ mộng tình vương
Đức Hạnh
 
PHÓ MẶC
Sự thế buồn vui quá tỏ tường
Tâm tham trí thiển lộ bao phương
Chiều quê nắng trải buồn khôn nói
Trăng lạnh sương vây khói đoản trường
Đêm mờ hoa rũ đời u ám
Ngày nắng mây che gió quạnh hương
Biển tím sóng xô sầu vướng khổ
Nhân tài phó mặc chuyện cần vương
vetratho
 
BẢO NGHĨA VƯƠNG TRẦN
Hàng ngũ trùng trùng theo sát Vương
Khổ đau nô lệ đã am tường
Toàn dân xung trận vây bao chốn
Quân lính liều mình giết mọi phương.
Tướng Trọng vung gươm vào chiến trận
Giặc Tàu rải xác khắp sa trường.
Cho dù bị bắt , ngang nhiên đứng
“Thà quỷ không thèm ... “mãi ngát hương .
Trần Như Tùng
 
Chào bạn, đây là một chùm thơ xướng họa Thất ngôn bát cú Đường luật vô cùng hào hùng, tràn đầy chí khí dân tộc và lòng kính phụng dành cho Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng — vị anh hùng với câu nói bất tử: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
Dưới đây là bình giải chuyên sâu về mặt Nội dung - Cảm xúcNghệ thuật xướng họa - Luật Đường, cũng như Đánh giá từng bài trong tập thơ này.
1. Tổng Quan Cảm Nhận & Đề Tài Lịch Sử
Chủ đề xuyên suốt chùm thơ là lòng can trường, khí tiết bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
Bức tranh minh họa đi kèm khắc họa rất rõ thần thái của danh tướng: dù bị trói chặt, đứng giữa trướng giặc với sự đe dọa hay dụ dỗ, ông vẫn hiên ngang, dẫm chân ngẩng đầu thể hiện uy lực và sự khinh bỉ trước quân thù. Chùm thơ xướng họa này đã truyền tải trọn vẹn tinh thần mãnh liệt đó từ lịch sử vào thi ca.
2. Phân Tích Chuyên Sâu Từng Bài Thơ
🔹
 Bài Xướng: NGHĨA KHÍ ANH HÙNG (Đức Hạnh)
  • Khái quát: Đóng vai trò là "người xướng", bài thơ dựng nên bộ khung chuẩn mực cả về bộ vần (vương - tường - phương - trường - hương) lẫn mạch cảm xúc hùng tráng.
  • Nội dung: Bài thơ nêu bật khí phách cần vương, sự mưu trí nhận rõ thế trận và đặc biệt là đứt khoát từ chối tước vương của giặc ("Dẫu tử không làm vua giặc bắc").
  • Nghệ thuật: Niêm luật chỉnh, đối đáp ở hai liên giữa (Thực - Luận) rất chặt chẽ, tạo nền tảng vững chắc cho các thi hữu họa lại.
🔹
 Bài Họa 1: CHỈ MỘT LỜI THÔI ! (songquang)
  • Đặc sắc: Khai thác xuất sắc cái "thần" của câu nói lịch sử. Tác giả cô đọng cả khí phách vào "một lời chính khí" khiến quân thù run tay kiếm, kinh tâm.
  • Cảm xúc: Rất dứt khoát, sảng khoái và tự hào. Bài họa bám rất sát bộ vần của bài xướng, ngôn từ tự nhiên, giàu sức gợi.
🔹
 Bài Họa 2: TRẦN BÌNH TRỌNG (Như Thị)
  • Đặc sắc: Bài thơ giàu tính sử liệu và tri thức nghệ thuật nhất. Tác giả lồng ghép tinh tế địa danh chiến trường (Đà mạcThiên Trường), tuổi đời còn rất trẻ (tuổi đời hai sáu) và nguồn gốc gia thế.
  • Hình tượng: Khắc họa rõ nét vai trò chiến lược: cầm chân quân Mông Cổ để hộ giá Vua Trần, tạo khoảng trống chiến lược cho cuộc kháng chiến. Hai câu thực và luận đối vô cùng chỉnh (Cầm chân Mông Cổ... / Hộ giá Vua Trần...).
🔹
 Bài Họa 3: NGHĨA KHÍ TRẦN BÌNH TRỌNG (Minh Thúy)
  • Đặc sắc: Cách diễn đạt mộc mạc, cô đọng nội dung lời thề bất tử sang thể lục / thất ngôn rất thoát ý ("Thề là quỷ dữ trời Nam bộ / Quyết chẳng vua tồi đất Bắc phương").
  • Hình tượng: Tác giả mở rộng góc nhìn từ danh tướng sang sức mạnh tổng hợp của quân dân và tướng sĩ, khắc họa không khí sục sôi đánh đuổi giặc ngoại xâm.
🔹
 Bài Họa 4 & Đáp Họa: HÀO KHÍ VIỆT NAM (Trần Hằng Nga & Đức Hạnh)
  • Bài Trần Hằng Nga (Mạ đề): Sử dụng hình ảnh nhân dân dùng vũ khí thô sơ (tầm vông, gậy gỗ) đối đầu với hàng ngàn, hàng tỷ quân thù. Bài thơ mang hào khí mở rộng, khẳng định tâm nguyện người Việt bao đời luôn trảm lũ gian tà.
  • Bài Đáp Họa (Đức Hạnh): Nhịp thơ dồn dập, thể hiện tinh thần tiến công ("Diệt phỉ rừng chông...", "Tiêu Tàu kiếm thuật..."). Hình ảnh "Làm ma cõi Việt hồn không vướng" tiếp nối mạch tư tưởng "Thà làm quỷ nước Nam" một cách trọn vẹn.
🔹
 Bài Họa 5: PHÓ MẶC (vetratho)
  • Sự phá cách / Nốt trầm độc đáo: Khác với các bài họa bừng bừng chí khí chiến đấu, bài thơ này lại chọn một góc nhìn u buồn, hoài niệm ("Chiều quê nắng trải buồn khôn nói / Trăng lạnh sương vây khói đoản trường").
  • Ý niệm: Mang tâm trạng ngậm ngùi trước thế sự u ám, để rồi kết lại bằng sự kính cẩn phó mặc, gửi gắm niềm tin vào những nhân tài mang khí tiết "cần vương" như Trần Bình Trọng.
🔹
 Bài Họa 6: BẢO NGHĨA VƯƠNG TRẦN (Trần Như Tùng)
  • Khí thế: Khắc họa sự ngang tàng, uy nghi của Tướng Trọng lúc sa cơ ("Cho dù bị bắt, ngang nhiên đứng").
  • Nghệ thuật: Câu kết đóng lại bằng trích dẫn dứt khoát lời thề năm xưa, giữ trọn âm hưởng kiêu hùng cho toàn bộ chùm thơ.
3. Tổng Kết Chi Năng Xướng Họa
Tiêu chí
Đánh giá
Luật thơ & Vần điệu
Chấp hành nghiêm ngặt thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật (Bằng phẳng, niêm đối, đối liên 3-4 và 5-6 đều chuẩn xác).
Bộ vần
Sử dụng vần "Vương - Tường - Phương - Trường - Hương" rất chuẩn, là các từ mang âm hưởng vang, rộng, hợp với đề tài khí phách anh hùng.
Tính tương tác (Xướng - Họa)
Các bài họa không chỉ rập khuôn vần điệu mà còn bổ sung cho nhau về góc nhìn: từ lịch sử, triết lý, không khí chiến trận cho đến hoài niệm thế sự.
Lời kết: Đây là một chùm thơ xướng họa rất thành công, không chỉ thể hiện trình độ niêm luật Đường luật vững vàng của các tác giả mà còn là một tấm lòng tri ân sâu sắc gửi tới vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. – Gemini.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét