HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG
A Sào Bến Tượng lễ đền ân
Lũ lượt hành hương hội Thánh Trần
Đại Nẫm nuôi hiền lương tích chuẩn
Công thần dựng võ chí tề quân
Gươm thề Hóa bãi giang lưu trận
Lệnh phản Nguyên triều tặc thế thân
Sát Thát Am Qua hùng luyện cẩn
Soi lòng mộ khách thỉnh hương dâng
Nhât
Nguyệt
* Đền A Sào còn gọi là Đệ nhị sinh từ, nơi thờ Quốc Công Tiết Chế - Hưng
Đạo Đại Vương thuộc xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, tọa lạc trong
thái ấp của Trần Liễu, phụ thân của Ngài. Khi chống giặc Nguyên – Mông, triều
đình giao cho Trần Quốc Tuấn về vùng đất này xây dựng căn cứ dự trữ binh lương.
A Sào nghĩa là cái tổ của nhà Trần, cũng là nơi đặt đại bản doanh của Trần Hưng
Đạo. Sử sách lưu truyền rằng: Một lần chỉ huy quân đội nhà Trần vượt song Hóa
tiến công quân địch, qua bến sông thuộc đất A Sào, voi chiến của Ngài đã bị sa
lầy. Nhân dân nơi đây đã đóng bè mảng đưa Ngài cùng tướng sỹ vượt sông. Bến
sông này có tên Bến Tượng, có miếu thờ tượng voi. (Nguồn trích Báo Dân Trí)
Thơ Họa:
KÍNH ĐỨCTHÁNH TRẦN
Nước Việt muôn thời nhớ đại ân
Vang danh Quốc Tuấn thuở nhà Trần
Diên Hồng bô lão vừa dâng ấn
Hội nghị
Bình Than
giục tiến quân
Ô Mã bị gươm vừa bị đẩn
Thoát Hoan chui ống nhục vào thân
Ba lần sông núi ghi hùng trận*
Hậu thế trang lòng mãi kính dâng...!
Đức Hạnh
* Nhà Trần nổi tiếng trong lịch sử dân tộc với những chiến tích võ công
chói lọi, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông hung bạo. Có lẽ, đây là triều đại
có nhiều võ tướng tài ba nhất: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư,
Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản,
Trần Khát Chân và nhiều võ tướng khác được lịch sử ghi nhận như những bậc anh
hùng dân tộc. Trận quyết chiến chiến lược nổi tiếng nhất đó là Trận Bạch Đằng
năm 1288 gắn liền với tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
***
Cặp thơ xướng họa giữa hai tác giả Nhất
Nguyệt và Đức Hạnh là một chỉnh thể nghệ thuật đặc sắc, vừa thể hiện
sự tôn kính sâu sắc đối với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn, vừa cho thấy tài năng thi phô độc đáo qua thể thơ Đường luật Bát vận
đồng âm (cả 8 câu trong bài đều hiệp một vần).
Sức hút từ thể thức: Bát vận đồng âm
Việc sáng tác Đường luật vốn đã khắt khe về
niêm luật, đối, đối thanh, đối ý. Thể Bát vận đồng âm (dùng duy nhất một
vần cho cả 8 dòng thơ) lại càng khó gấp bội vì rất dễ rơi vào tình trạng ép
vần, vỡ tứ hoặc lặp ý.
·
Bài xướng
(Nhất Nguyệt): Hiệp vần ân (ân
- Trần - chuẩn - quân - trận - thân - cẩn - dâng).
·
Bài họa (Đức
Hạnh): Họa lại chính xác vần ân
(ân - Trần - ấn - quân - đẩn - thân - trận - dâng).
Cả hai tác giả đều làm chủ luật thơ rất vững:
vần điệu tự nhiên, câu từ luân chuyển nhịp nhàng mà vẫn giữ trọn được khí phách
tráng lệ của một bài ca lịch sử.
Bài Xướng: "HƯNG ĐẠI ĐẠI VƯƠNG"
(Nhất Nguyệt) Cảm hứng tâm linh và
chiều sâu ký ức lịch sử
Bài xướng đi từ thực tại nghi lễ đến hoài
niệm lịch sử, nhấn mạnh vào tầm vóc tài đức của Trần Hưng Đạo:
·
Bối cảnh hội
tụ (Thực & Đề): Hai câu đầu gợi
mở không gian thiêng liêng tại Đền A Sào (Thái Bình) — cái "tổ" của
nhà Trần. Dòng người "lũ lượt hành hương" thể hiện đạo lý "Uống
nước nhớ nguồn" của dân tộc hướng về Đức Thánh Trần.
·
Tài năng &
Khí tiết (Thực & Luận): Tác giả
khắc họa hai nét nổi bật ở Ngài: Tài kinh quốc (nuôi hiền, tích lương ở
Đại Nẫm) và Khí tiết anh hùng (lời thề bên sông Hóa khi voi chiến sa
lầy: "Nếu không đánh thắng giặc Nguyên, ta không trở về bến sông này
nữa").
·
Tầm vóc &
Lòng dân (Kết): Khí thế "Sát
Thát" ngút trời kết hợp với sự cẩn trọng trong điều binh luyện võ
("Am Qua hùng luyện cẩn"). Bài thơ khép lại bằng nén hương lòng tôn
kính của du khách thập phương.
Đánh giá: Bài xướng nghiêng về chiều sâu lịch sử và tấm lòng
tri ân, ngôn từ trang trọng, hoài cổ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư liệu lịch
sử và cảm xúc thiêng liêng.
Bài Họa: "KÍNH ĐỨC THÁNH TRẦN"
(Đức Hạnh) Võ công chói lọi và hào
khí Đông A
Nếu bài xướng tập trung vào địa danh lịch sử
A Sào và tâm tình người chiêm bái, thì bài họa bùng nổ với khí thế hào hùng của
những trận đánh lịch sử:
·
Tầm vóc dân
tộc (Đề): Khẳng định ơn sâu của Đức
Thánh Trần đối với muôn đời sông núi Việt Nam.
·
Tái hiện lịch
sử (Thực): Điểm lại hai sự kiện quan
trọng thể hiện ý chí toàn dân: Hội nghị Bình Than (triệu tập võ tướng) và Hội
nghị Diên Hồng (trưng cầu ý dân) — nền tảng tạo nên sức mạnh vô địch.
·
Chiến công
hiển hách (Luận): Hai câu luận rất
đắt, sử dụng phép đối lập gắt giữa hai phe:
o
Tướng giặc Nguyên
(Ô Mã Nhi) bị truất phế/trảm gươm, Thoát Hoan chui ống đồng nhục nhã tháo chạy.
o
Sự thất bại thảm
hại của kẻ xâm lược tôn vinh sự thiên tài trong quân sự của Hưng Đạo Vương và
quân dân nhà Trần.
·
Tri ân hậu thế
(Kết): Khép lại bằng niềm tự hào về
ba lần thắng giặc Nguyên - Mông và tấm lòng thành kính dâng lên của muôn đời
sau.
Đánh giá: Bài họa nghiêng về sự hào hùng, sảng khoái, từ
ngữ giàu tính biểu cảm và tạo hình ("chui ống nhục", "bị gươm
vừa bị đẩn"), làm nổi bật Hào khí Đông A rực rỡ.
Sự tương phản và hòa hợp trong xướng - họa
·
Tính kế thừa
& Phát triển: Bài họa không chỉ
tuân thủ chặt chẽ vần điệu của bài xướng mà còn mở rộng biên độ không gian (từ
A Sào ra toàn thể sông núi) và thời gian (từ việc chuẩn bị binh lương đến những
chiến thắng lừng lẫy trên sông Bạch Đằng).
·
Nghệ thuật
xướng họa: Bài xướng tạo ra cái Tĩnh
(lễ đền, thắp hương, tưởng nhớ, chiêm nghiệm), bài họa tạo ra cái Động
(tiến quân, gươm đao, Thoát Hoan tháo chạy, hùng trận). Sự kết hợp Động - Tĩnh
này tạo nên một bức tranh toàn cảnh trọn vẹn về cuộc đời và sự nghiệp của Đức
Thánh Trần.
Cả hai bài thơ đều là những sáng tác Đường
luật công phu, vừa đạt chuẩn về nghệ thuật thi thiếp, vừa dạt dào cảm xúc yêu
nước và lòng tự hào dân tộc.- GEMINI.
[Bình thơ & hình minh họa = Gemini]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét