VỊNH CÂY VÔNG
Biền, nam, khởi tử, chẳng vun trồng,
Cao lớn làm chi những thứ vông.
Tuổi tác càng già, già xốp xáp,
Ruột gan không có, có gai chông.
Ra tài lương đống không nên mặt,
Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng.
Đã biết nòi nào thì giống nấy,
Khen cho rứa cũng trổ ra bông!
Nguyễn Công Trứ
Cẩn họa:
LOÀI GAI GÓC
THÂN đã vô tâm* Họ vẫn trồng ?
THỜI hoài mê muội cảnh cây vông
TO đùng phủ đất càng chen lối
LỚN tướng che trời lại có chông
CÒN tổn tiền Dân luôn hại Nước
KHÔNG sinh lợi ích chẳng an lòng
RUỘT gan rỗng tuếch loài gai góc
GIỐNG LẠI CAO NGHỀU CŨNG TRỔ BÔNG !
* rổng ruột
Đức Hạnh
Bài thơ xướng họa giữa tác phẩm gốc "Vịnh Cây Vông" của Nguyễn Công Trứ và bài họa "Loài Gai Góc" của Đức Hạnh là một cặp xướng – họa đặc sắc, mang đậm tính chiến đấu, nghệ thuật trào lăm và cảm hứng nhân sinh sâu sắc.
1. Mạch cảm xúc và tư tưởng chủ đạo
Bài xướng của Nguyễn Công Trứ mượn hình ảnh loài cây vông (một loài cây thân xốp, thân mang gai, ruột rỗng, gỗ không dùng làm việc lớn được) để kiến tạo nên một không gian trào lăm, châm biếm sắc sảo.
Ở bài họa, tác giả Đức Hạnh không chỉ giữ trọn tinh thần châm biếm ấy mà còn nâng tầm bằng lối viết "Tung hoành trục khoán" (ghép chữ đầu dòng để tạo thành ẩn ý riêng), xoáy sâu hơn vào nỗi trăn trở trước những thực trạng xơ xác, bất cập ở đời.
2. BÌNH CHUYÊN SÂU BÀI XƯỚNG: "Vịnh Cây Vông" – Nguyễn Công Trứ
Sự tráo đổi vị thế và nghệ thuật phác họa tượng hình
Nguyễn Công Trứ mở đầu bằng việc gán cho cây vông những tên gọi hoa mỹ theo y học/hán học (biền, nam, khởi tử), để rồi ngay lập tức giội một gáo nước lạnh: "chẳng vun trồng". Sự tương phản giữa tên gọi có vẻ sang trọng với bản chất dại dội, không ai thèm chăm bón tạo nên tiếng cười giễu nhại ngay từ những dòng đầu.
- Cặp thực (Mô tả bản chất):
“Tuổi tác càng già, già xốp xáp, Ruột gan không có, có gai chông.”
Cái hay của Uy Viễn Tướng công là dùng từ ngữ rất đời, rất tượng hình (xốp xáp). "Càng già" đáng lẽ phải càng vững chãi, càng luyện nên chất gỗ luyện kim quý giá, thì cây vông lại "già xốp xáp". Bản chất bên trong hoàn toàn rỗng tuếch (ruột gan không có), nhưng bề ngoài lại chĩa ra toàn sự đe dọa, tổn hại (có gai chông). Đây là nghệ thuật châm biếm bậc thầy về những kẻ bất tài nhưng thích giương oai diễu võ.
- Cặp luận & kết (Đánh giá và thái độ):
“Ra tài lương đống không nên mặt, Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng. Đã biết nòi nào thì giống nấy, Khen cho rứa cũng trổ ra bông!”
Hình ảnh "rường cột" (lương đống) vốn tượng trưng cho bậc sĩ phu tài gánh vác quốc gia xã tắc. Cây vông không đủ tư cách làm việc lớn ấy, chỉ quanh quẩn làm hàng rào (phiên ly) che chắn tạm bợ. Từ cảm thán tiếng Nghệ "rứa" chen vào câu kết vừa tự nhiên, vừa mang cái cười nhếch mép chua chát: dù rỗng ruột, gai góc, chẳng giúp ích gì cho đời thì đến mùa... "rứa cũng trổ ra bông"!
3. BÌNH CHUYÊN SÂU BÀI HỌA: "Loài Gai Góc" – Đức Hạnh
Kỳ kỹ thuật: Tung hoành trục khoán
Bài họa của Đức Hạnh gây ấn tượng mạnh bởi việc lồng ghép thủ pháp Tung hoành trục khoán. Nếu đọc các từ đầu tiên của từng câu thơ theo chiều dọc:
THÂN – THỜI – TO – LỚN – CÒN – KHÔNG – RUỘT – GIỐNG LẠI CAO NGHỀU CŨNG TRỔ BÔNG
Nó tự tạo thành một mệnh đề phê phán liên tục và liền mạch, hỗ trợ trực tiếp cho nội dung của toàn bài họa.
Đối đáp và xoáy sâu vào hiện thực
Tác giả Đức Hạnh tuân thủ nghiêm ngặt niêm luật bài họa (giữ nguyên vần trồng - vông - chông - lòng - bông của Nguyễn Công Trứ), đồng thời đẩy nét châm biếm sang một sắc thái quyết liệt, giàu tính thời sự hơn:
- Cặp đề & thực (Sự căm phẫn trước thực cảnh):
“THÂN đã vô tâm Họ vẫn trồng ? THỜI hoài mê muội cảnh cây vông TO đùng phủ đất càng chen lối LỚN tướng che trời lại có chông”
Nếu bài xướng của Uy Viễn Tướng công mang góc nhìn phê phán tính chất cá thể của loài vông, thì bài họa đặt ra câu hỏi mang tính hệ thống: Tại sao một thứ vô tâm, rỗng ruột như thế lại vẫn được vú nuôi, chăm bón ("Họ vẫn trồng")? Cụm từ "TO đùng phủ đất", "LỚN tướng che trời" khắc họa sự bành trướng của cái xấu, cái bất tài - không những không mang lại bóng mát hay giá trị mà còn choán lối, giăng chông làm hại người khác.
- Cặp luận & kết (Nỗi đau nhân sinh và đòn giáng chí mạng):
“CÒN tổn tiền Dân luôn hại Nước KHÔNG sinh lợi ích chẳng an lòng RUỘT gan rỗng tuếch loài gai góc GIỐNG LẠI CAO NGHỀU CŨNG TRỔ BÔNG !”
Cặp câu luận chuyển hẳn sang tông điệu phê phán trực diện, không còn úp mở: cái vô dụng giờ đây trở thành mối nguy (tổn tiền Dân, hại Nước). Câu kết của bài họa tiếp nối trọn vẹn cái thần của bài xướng, bức tranh về thứ "giống lạ cao nghều" rỗng ruột mà vẫn thản nhiên "trổ bông" khép lại bài thơ bằng một nụ cười cay đắng, mỉa mai đến tột cùng.
4. Tổng kết sự hòa hợp xướng - họa
Tiêu chí
Bài xướng (Nguyễn Công Trứ)
Bài họa (Đức Hạnh)
Bút pháp
Mượn cảnh ngụ ý, châm biếm thâm thúy, dí dỏm mang bản sắc tài hoa, phóng khoáng.
Sử dụng thủ pháp Tung hoành trục khoán, đả kích trực diện, quyết liệt và góc cạnh.
Thần thái
Cái nhìn bao quát, xếp loài vông về đúng vị trí nhỏ bé (chỉ đáng làm hàng dâm bụt/phiên ly).
Phẫn nộ trước sự bành trướng vô lý của thứ gai góc rỗng ruột trong đời sống.
Sự hô ứng
Đặt nền móng với tứ thơ "vô tâm - có gai - trổ bông".
Họa lại trọn vẹn dàn vần, mở rộng ý thơ từ "cây vông" sang bài học nhân sinh/thời thế.
Cả hai bài thơ khi đặt sóng đôi đã tạo nên một màn xướng họa tâm đắc. Nguyễn Công Trứ đặt ra nét vẽ khởi đầu bằng ngọn bút tài hoa, sắc sảo; Đức Hạnh họa lại bằng sự tỉ mỉ trong kỹ thuật gài chữ cùng tấm lòng trăn trở với thế sự. Cả hai cùng gặp nhau ở một điểm: dùng tiếng cười trào lăm để vạch trần những giá trị ảo, những thứ "rỗng ruột nhưng nhiều gai" ở đời.
[Bài bình & hình minh họa – Gemini]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét