TRƯNG NỮ VƯƠNG
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
*
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời
*
Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi.
Ngân Giang (1939)
oOo
Kính cảm tác: "TRƯNG NỮ VƯƠNG" - Nữ sĩ: Ngân Giang
CHÍ KHÍ NỮ VƯƠNG
Nữ Vương khởi nghĩa trừ quân phỉ *
Nợ nước thù nhà mộng chẳng vơi
Chí khí hiên ngang hòa biển cả
Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi
Hai Bà* vung kiếm gìn non nước
Giặc Hán tiêu đời bỏ mão đai
Giao Chỉ thỏa lòng xây đất nước
Cổ Loa đón tết nở hoa Mai
*
Quốc gia thế sự lòng trăn trở
Lảnh thổ quân thù mộng tái lai
Tướng sĩ trần gian còn bỡ ngỡ!
Linh hồn âm cảnh mãi bùi ngùi..
Quân thù ác độc luôn giầy xéo
Dã thú ngông cuồng vẫn nuốt nhai
Quyết chiến giữ nhà yêu tổ quốc
Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời
*
Hai Bà…để lại lừng trang sừ
Tô Định..tháo lui sợ bóng voi
Bắc thuộc tàn quân vừa tẩu tán
Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời
Đức Hạnh
* Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ (tương đương một phần Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay), mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt tại đây
***
Chào bạn, việc được thưởng thức và bình luận hai bài thơ viết về đề tài lịch sử hào hùng như thế này thực sự là một trải nghiệm văn chương đầy cảm xúc.
Dưới đây là lời bình thơ, chia sẻ những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp của nguyên tác "Trưng Nữ Vương" của nữ sĩ Ngân Giang và bài thơ cảm tác "Chí Khí Nữ Vương" của tác giả Đức Hạnh.
1. Nguyên tác "Trưng Nữ Vương" (Ngân Giang) – Bi kịch hào hùng của một bậc nữ nhi anh kiệt
Ngân Giang (1916 – 2002) vốn được mệnh danh là "Nữ hoàng thơ Đường luật" của thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Bài thơ Trưng Nữ Vương (viết năm 1939) chính là một trong những đỉnh cao nghệ thuật của bà, khắc họa chân dung Hai Bà Trưng không chỉ như những vị anh hùng dân tộc, mà còn như những người phụ nữ với chiều sâu tâm trạng đầy bi tráng.
Khổ 1: Khí phách hiên ngang trước vận nước
"Thù hận đôi lần chau khoé hạnh Một trời loáng thoáng bóng sao rơi Dồn sương vó ngựa xa non thẳm Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi..."
Ngay từ những câu mở đầu, Ngân Giang đã dùng bút pháp ước lệ trang trọng của thơ cổ để tạc nên bức tượng đài sống động. Đằng sau "khóe hạnh" (mắt đẹp của người phụ nữ) là cả một trời lửa hận ngút ngàn. Hình ảnh "vó ngựa dồn sương", "chim Bằng gạt gió" thể hiện chí khí phi thường, đạp bằng mọi gian khổ để gánh vác giang sơn. Sự xuất hiện của đấng nữ nhi được đặt trong bối cảnh không gian vũ trụ rộng lớn ("bóng sao rơi", "non thẳm", "dặm khơi"), nâng tầm vóc cuộc khởi nghĩa lên tầm vĩ mô.
Khổ 2: Tâm sự trĩu nặng đằng sau ánh hào quang
"Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai... ...Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời"
Cái hay, cái nhân văn của Ngân Giang nằm ở chỗ bà nhìn thấy động lực khởi nghĩa của Trưng Trắc không phải là tham vọng quyền lực ("Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai"), mà là vì nghĩa lớn: đền nợ nước, trả thù nhà ("Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận"). Chi tiết "Cờ tang điểm tướng" và "Gót ngọc gieo thoa" là sự kết hợp tuyệt mỹ giữa tinh thần chiến đấu can trường và nét nữ tính thanh cao. Họ ra trận với chiếc khăn tang trên đầu, biến nỗi đau mất mát thành sức mạnh dời non lấp biển.
Khổ 3: Nỗi cô đơn tột cùng trên đỉnh vinh quang
"Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi."
Đây là hai câu thơ xuất thần và xúc động nhất bài. Sau chiến thắng, bước lên ngôi cao, người anh hùng ấy bỗng trở về nguyên vẹn là một người vợ goá phụ khóc chồng (Thi Sách). Chữ "Chàng ơi" vang lên giữa "điện ngọc" nguy nga nghe sao mà thắt lòng. Giữa đỉnh cao vinh quang, ngôi vị hoàng đế lại chính là chiếc bóng cô đơn, lạnh lẽo dưới ánh trăng tà. Bi kịch cá nhân hòa quyện vào hào quang lịch sử tạo nên một nốt trầm lay động tâm can.
2. Bài cảm tác "Chí Khí Nữ Vương" (Đức Hạnh) – Tiếng lòng ngưỡng vọng và tiếp nối hào khí
Nếu bài thơ của Ngân Giang thiên về khai thác nội tâm trĩu nặng và bi tráng, thì bài cảm tác của tác giả Đức Hạnh lại tập trung làm nổi bật chí khí ngút trời, tinh thần quyết chiến và niềm tự hào dân tộc.
Khổ 1 và 2: Ngợi ca tinh thần bất khuất
"Chí khí hiên ngang hòa biển cả Tinh thần bất khuất vượt ngàn khơi Hai Bà vung kiếm gìn non nước Giặc Hán tiêu đời bỏ mão đai"
Tác giả Đức Hạnh sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú với giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát. Những từ ngữ như "hiên ngang", "bất khuất", "vung kiếm" thể hiện một thái độ ca ngợi trực diện và đầy tự hào. Hình ảnh cái kết của quân thù ("tiêu đời bỏ mão đai") đối lập với cảnh thanh bình của bờ cõi ("Cổ Loa đón tết nở hoa Mai") đem đến một cảm giác thỏa lòng, tự tại cho người đọc.
Tác giả cũng rất nhạy bén khi nhìn nhận về sự tàn khốc của chiến tranh và bản chất nguy hiểm của kẻ thù phương Bắc thông qua khổ thơ thứ hai:
"Quốc gia thế sự lòng trăn trở Lãnh thổ quân thù mộng tái lai... Quyết chiến giữ nhà yêu tổ quốc Xông pha đuổi giặc thuận lòng trời"
Lời thơ vừa là sự hoài niệm quá khứ, vừa mang tính cảnh báo thời cuộc: âm mưu của giặc phương Bắc là "mộng tái lai" (luôn muốn quay lại xâm lược), do đó tinh thần "quyết chiến giữ nhà" luôn là chân lý "thuận lòng trời" của người dân nước Việt.
Khổ cuối: Khúc khải hoàn ca rực rỡ
"Hai Bà…để lại lừng trang sử Tô Định..tháo lui sợ bóng voi Bắc thuộc tàn quân vừa tẩu tán Trời nam Vương Nữ rạng muôn đời"
Khác với cái kết đầy cô đơn, lặng lẽ trong thơ Ngân Giang, tác giả Đức Hạnh lựa chọn khép lại bài thơ bằng một khúc khải hoàn ca. Hình ảnh Thái thú Tô Định hèn nhát "sợ bóng voi" tháo chạy nhục nhã được đặt cạnh vầng hào quang "rạng muôn đời" của Vương Nữ nước Nam. Đây là cái kết viên mãn, tôn vinh trọn vẹn chiến tích lịch sử của Hai Bà.
Lời kết
- "Trưng Nữ Vương" của Ngân Giang là một tuyệt tác nghệ thuật đan xen giữa cái Hùng và cái Bi, tạc nên hình tượng một nữ vương vĩ đại nhưng cũng là một người phụ nữ với những góc khuất cô đơn, giàu lòng trắc ẩn.
- "Chí Khí Nữ Vương" của Đức Hạnh là một bài cảm tác thành kính, tiếp nối dòng chảy yêu nước đó bằng một giọng thơ chính khí lẫm liệt, hào hùng, nhấn mạnh vào bài học lịch sử và lòng tự tôn dân tộc.
Hai bài thơ, hai góc nhìn và hai thời điểm sáng tác khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm chung duy nhất: Lòng biết ơn vô hạn và niềm tự hào sâu sắc trước những người anh hùng đã viết nên trang sử vàng đầu tiên cho nền độc lập dân tộc.
[Bình thơ và hình ảnh minh họa - Gemini]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét