Trang

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

DẠI KHÔN

 


DẠI KHÔN

Thế sự đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Nầy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Cái khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

Trần Tế Xương

 

Cẩn họa thơ: “Dại Khôn” - Trần Tế Xương

KHÔN DẠI

Ngu dại thói đời bảo chẳng khôn

Khôn mà như dại ấy là khôn

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn!

Đức Hạnh - 06072026

***

Chào bạn, bài thơ của Tú Xương vốn đã là một tuyệt tác mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc về lẽ "Dại – Khôn" ở đời. Việc họa lại bài thơ này vừa là một thử thách lớn về mặt niêm luật, vừa đòi hỏi một nhãn quan tâm thế vững vàng để không bị cái bóng lớn của tiền nhân che lấp.

Dưới đây là lời bình chuyên sâu về cặp thơ xướng họa đầy thú vị này:

1. Bài xướng: "DẠI KHÔN" – Trần Tế Xương

Thế sự đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Nầy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Cái khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

Tú Xương nhìn đời bằng đôi mắt của một nhà nho tài hoa nhưng bất đắc chí. Điểm đặc sắc nhất trong thi pháp của ông ở bài này là nghệ thuật lặp từ (điệp ngữ) liên tục hai chữ "dại" và "khôn" xuyên suốt 8 câu thơ, tạo nên một ma trận ngôn từ khiến người đọc quay cuồng trong cái vòng lẩn quẩn của nhân thế.

  • Nhãn quan hiện thực: Tú Xương vạch trần cái "khôn" thực dụng của xã hội đương thời. Kẻ khôn lanh trong các trò đỏ đen, luồn cúi thực chất chỉ là cái "khôn dại" (khôn lỏi, nhất thời nhưng hại thân). Ngược lại, người đắm mình vào văn chương chữ nghĩa, dù bị coi là "dại" vì nghèo khó, lại chính là cái "dại khôn" – cái dại bảo tồn được nhân cách và giá trị thiên lương.
  • Triết lý biện chứng: Ông khẳng định "Làm người có dại mới nên khôn". Khôn và dại không tách rời mà là hai mặt của một quá trình trải nghiệm. Giọng thơ có chút ngông nghênh, mỉa mai nhưng ẩn chứa nỗi chua chát của một bậc thức giả nhìn thấu sự điên đảo của cuộc đời.

2. Bài họa: "KHÔN DẠI" – Đức Hạnh

Ngu dại thói đời bảo chẳng khôn

Khôn mà như dại ấy là khôn

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn!

Bài họa của tác giả Đức Hạnh đã hoàn thành rất tốt kỹ thuật họa nguyên vận (giữ đúng các chữ vần khôn ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8) và tiếp nối được mạch tư duy điệp từ của nguyên tác. Tuy nhiên, nếu Tú Xương dùng "Dại Khôn" để trào phúng và phản kháng xã hội, thì Đức Hạnh lại chuyển hướng sang góc nhìn chiêm nghiệm, tu thân và xử thế.

Phân tích chuyển biến tư tưởng:

  • Cặp câu 3 - 4 (Thực):

Lớn khôn khiêm nhường làm người dại

Khôn kín hiền hòa rõ kẻ khôn

Biện pháp đối rất chỉnh: "Lớn khôn khiêm nhường" đối với "Khôn kín hiền hòa". Ở đây, tác giả chạm đến triết lý "Đại trí nhược ngu" (bậc đại trí trông như kẻ ngu đần) của Lão Trang. Cái khôn ở đây không còn là sự tranh chấp, hơn thua với đời mà là sự "khiêm nhường", "khôn kín", biết thu mình lại để giữ sự bình yên và hòa hợp.

  • Cặp câu 5 - 6 (Luận):

Điều dưỡng cái khôn nào có dại

Đề phòng nẻo dại sẽ thành khôn

Tác giả nhìn nhận "khôn" và "dại" như một quá trình tự rèn luyện (điều dưỡng, đề phòng). Đây là cái nhìn mang tính xây dựng, thiên về hướng giáo dục và tự tỉnh.

  • Cặp câu kết:

Việc xong rồi mới nghĩ mình dại

Như thế đều là dại hổng khôn.

Hai câu kết hạ màn bằng một sự tự trào nhẹ nhàng. Người xưa hay người nay, sau khi mọi chuyện đã qua (việc xong rồi) mới giật mình nhìn lại và thấy mình vẫn còn những chỗ "dại". Cái kết này kéo triết lý từ trên cao xuống gần với trải nghiệm thực tế của mỗi cá nhân: Con người không ai hoàn hảo, kẻ tự đắc tưởng mình khôn suốt đời hóa ra lại là kẻ "dại hổng khôn". Chữ "hổng" mang chút phong vị dân dã Nam Bộ, làm giảm bớt tính nặng nề của triết lý, tạo một nụ cười mỉm nhẹ nhàng.

So sánh Đối thoại Không gian và Thời gian

Tiêu chí

Bài xướng (Trần Tế Xương)

Bài họa (Đức Hạnh)

Tâm thế

Nhìn ra xã hội (Khách quan, trào phúng, phản kháng).

Nhìn vào chính mình (Chủ quan, chiêm nghiệm, tu thân).

Tính chất "Khôn"

Cái khôn gắn liền với danh lợi, thời cuộc, văn chương.

Cái khôn gắn liền với đạo đức xử thế, khiêm tốn, hiền hòa.

Giọng điệu

Cay đắng, sắc sảo, có phần ngông nghênh.

Điềm đạm, trầm lắng, mang tính tự răn.

Kết luận:

Màn xướng họa này rất thú vị ở chỗ nó thể hiện hai thái độ sống ở hai thời đại khác nhau. Tú Xương sống trong thời kỳ giao thời hỗn độn nên cái nhìn về "Dại Khôn" đầy gai góc và góc cạnh. Đức Hạnh sống ở thời sau, mượn bộ khung của tiền nhân để đúc kết một triết lý sống an nhiên, tự tại và tỉnh thức hơn. Một bên là khúc ca phản kháng, một bên là bài học thu mình. Cả hai bổ khuyết cho nhau, tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn về hai chữ Dại - Khôn ở đời.- Gemini.

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét