Trang

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

CHIỀU LOANG BẾN VẮNG

 


CHIỀU LOANG BẾN VẮNG
Ta thành bến vắng giữa chiều hoang
Bất chợt thuyền em ghé muộn màng
Sóng nước vỗ về ru dỗ mạn
Hoàng hôn đỗ bóng tím chiều loang.
Như là quán trọ miền biên lộ
Kèo cột liêu xiêu cũng gọi nhà
Lữ khách buông màn đêm lỡ độ
Thả hồn ru dỗ mộng phồn hoa .
Kể từ hôm ấy thuyền quen lối
Hẹn mỗi thu về mỗi lại qua
Bến cũ giờ rơi chùm phượng cuối
Ta ngồi bổi hổi ngóng trời xa.
Lá đã sang mùa thu tiết báo
Núi xanh rừng thẳm áo thay màu
Bến xưa hoang hoải chiều hư ảo
Nhạc sóng xao bờ dạo nỗi đau.
Thuyền đi bắc lạch về nam ngạn
Bến dẫu tàn thu một chốn chờ
Ví có ngày kia thuyền rã mạn
Bến buồn khắc chạm ván vào thơ.
Trương Đình Đăng - 26/7/2016
Thơ Họa:
DƯ ÂM BIỂN NHỚ
[Tặng: Lệ Hoa]
Người đã nghìn trùng cõi tịch hoang
Thuyền yêu ngược sóng chở mơ màng
Trăng sao ai thả ngời mây nước
Để nụ hôn đầu mộng mãi loang
Nhớ quá em ơi! Ta nhớ quá!
Đêm nay chị Nguyệt cũng vô nhà
Bảo rằng kỷ niệm còn nguyên cả
Cây ái vườn Nàng đã nở hoa.
Nhịp đập đôi tim tình cháy bỏng
Hôn nhàu cả mặt mộng chưa qua
Em đi biển nhớ ngàn lưu luyến
Tiếng sóng ru hoài cảnh vọng xa
Đêm mơ ta thấy ngàn sao rụng
Chiếc áo Lệ Hoa chẳng nhạc màu
Điểm hẹn vườn xưa ngời đẹp lắm!
Dòng sông kỷ niệm khỏa niềm đau.
Ta thấy em về từ biển nhớ
Và nghe sóng hát thỏa mong chờ
Vườn xưa nhân ảnh dù huyền ảo
Hoa mộng vẫn ngời đẹp cánh thơ.
Đức Hạnh - 28072016
Bài thơ xướng "Chiều Loang Bến Vắng" của tác giả Trương Đình Đăng và bài họa "Dư Âm Biển Nhớ" của tác giả Đức Hạnh là một cặp thơ xướng họa thất ngôn bát cú (biến thể liên hoàn 5 khổ) tràn đầy cảm xúc. Dù chung một nhịp điệu, một khuôn hình luật lệ và các từ vựng gieo vận (hoang/loang, nhà/hoa, qua/xa, màu/đau, chờ/thơ), hai tâm hồn thi sĩ lại mang đến hai sắc thái tâm trạng vừa hoán đổi, vừa nâng đỡ cho nhau: Một bên là hoài niệm trầm lắng, xót xa; một bên là ngọn lửa hoài niệm cháy bỏng và thủy chung.
Here is my breakdown and appreciation of this poetry duo:
1. "Chiều loang bến vắng" (Trương Đình Đăng) – Tiếng lòng hoang hoải của bến cô đơn
Bài thơ xướng lấy hình ảnh "Bến - Thuyền" làm cái khung không gian và thời gian nghệ thuật truyền thống, nhưng được tô điểm bằng những gam màu tâm trạng rất riêng:
  • Sự gặp gỡ muộn màng và bất chợt: Mở đầu bằng không gian "chiều hoang" và "bến vắng", sự xuất hiện của "thuyền em" đến muộn màng nhưng đủ làm rung động cả khoảng không tàn nhẹ. Hình ảnh "Sóng nước vỗ về ru dỗ mạn / Hoàng hôn đỗ bóng tím chiều loang" vẽ nên một bức tranh chiều tím sẫm, vừa thơ mộng lại vừa mang gợn sóng bâng quơ của tình yêu lỡ nhịp.
  • Hình ảnh "quán trọ miền biên lộ": Một nét chấm phá rất đời và xiêu vẹo: "Kèo cột liêu xiêu cũng gọi nhà". Tình yêu, hay sự ghé thăm ấy, nhẹ nhàng như người lữ khách lỡ đường dừng chân trú trọ, thả hồn vào mộng phồn hoa rồi lại ra đi.
  • Nỗi chờ đợi qua mốt thu sang: Thời gian trôi, phượng tàn, lá đổi màu sang thu ("Bến cũ giờ rơi chùm phượng cuối / Ta ngồi bổi hổi ngóng trời xa"). Cụm từ "bổi hổi" lột tả rất đắt cái cảm giác xao xuyến, khắc khoải của người ở lại nhìn núi xanh rừng thẳm thay áo, nghe tiếng sóng như nhạc dạo nỗi đau.
  • Lời thề thủy chung lặng lẽ: Khổ cuối là đỉnh điểm cảm xúc của bài xướng. Dù thuyền có đi muôn ngả ("bắc lạch về nam ngạn"), bến vẫn là "một chốn chờ". Câu thơ kết "Ví có ngày kia thuyền rã mạn / Bến buồn khắc chạm ván vào thơ" chứa đựng một tình cảm bao dung, thủy chung đến nao lòng: dù thuyền có tan vỡ hay tàn phai, bến vẫn lưu giữ từng mảnh ván, từng kỷ niệm ấy để khắc thành thơ.
2. "Dư Âm Biển Nhớ" (Đức Hạnh) – Tiếng vọng nồng nàn nâng niu hoài niệm
Đáp lại bài xướng trầm lắng của Trương Đình Đăng, tác giả Đức Hạnh mang đến bài họa "Dư Âm Biển Nhớ" – một khúc ca chan chứa ân tình, trực diện và nồng nàn hơn, dường như là lời đáp lời/hoặc tiếng lòng của người phương xa gửi về "Lệ Hoa":
  • Từ tịch hoang bừng sáng mộng yêu: Nếu bài xướng bắt đầu bằng "chiều hoang", bài họa mở ra ở "cõi tịch hoang" nghìn trùng. Nhưng thay vì tím buồn hoang hoải, Đức Hạnh thắp sáng không gian bằng "trăng sao ngời mây nước" và nụ hôn đầu đắm say.
  • Kỷ niệm không phai mờ: Điểm hay của bài họa là sự tiếp nối ý niệm "quán trọ/nhà". Ở đây, "Đêm nay chị Nguyệt cũng vô nhà" để chứng giám rằng kỷ niệm vẫn còn nguyên vẹn, "Cây ái vườn Nàng đã nở hoa". Cảm xúc bùng nổ qua tiếng thốt chân thành: "Nhớ quá em ơi! Ta nhớ quá!".
  • Tình yêu mãnh liệt vượt không gian: Khác với cái chập chờn, dịu nhẹ của bài xướng, bài họa tả tình yêu bằng những hình ảnh rất bạo: "Nhịp đập đôi tim tình cháy bỏng / Hôn nhàu cả mặt mộng chưa qua". Nỗi đau chia ly không làm tình yêu lụi tàn mà biến thành dòng sông kỷ niệm "khỏa niềm đau".
  • Sự giao thoa và câu trả lời trọn vẹn: Ở khổ cuối, hình bóng em trở về từ "biển nhớ", xóa tan sự huyền ảo tàn thu. "Cánh thơ" ở câu kết bài họa là lời đáp hoàn hảo cho "vạn khắc vào thơ" ở bài xướng: "Hoa mộng vẫn ngời đẹp cánh thơ". Tình yêu đã vượt qua khoảng cách thời gian và hư ảo để trở thành cái đẹp vĩnh cửu.
3. Đánh giá tổng thể nghệ thuật xướng họa
  • Kỹ thuật họa nếp luật: Tác giả Đức Hạnh đã tuân thủ và vận dụng rất tài tình các từ gieo vận của tác giả Trương Đình Đăng: hoang - loangnhà - hoaqua - xamàu - đauchờ - thơ. Sự bắt nhịp từ vựng này không hề gượng ép mà chảy trôi rất tự nhiên theo dòng cảm xúc.
  • Sự tương phản làm nên tính hài hòa:
    • Bài xướng nhẹ nhàng, hoài niệm, lấy không gian chiều - bến - sông mang sắc thái man mác buồn.
    • Bài họa bộc trực, say đắm, lấy không gian đêm - biển - trăng sao mang sắc thái nồng nàn, xoa dịu.
  • Chủ đề đồng điệu: Cả hai bài thơ đều gặp nhau ở một điểm chung đẹp đẽ: nhớ thương và trân trọng những kỷ niệm đã qua. Người làm thơ không chỉ mượn vần mượn chữ để giao lưu, mà thực sự đã thấu cảm tiếng lòng của nhau.
Hai bài thơ như hai nửa của một khúc hòa tấu: một nốt trầm lắng đọng xót xa và một nốt cao vút ngân nga hy vọng. Cảm ơn bạn đã chia sẻ một cặp thơ xướng họa rất tình và giàu dư âm này! – Gemini.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét